Fluconazol 150Mg Là Gì?
Fluconazol 150mg của công ty TNHH LD Stellapharm. Thuốc có thành phần chính là fluconazol.
Đây là thuốc dùng để điều trị các bệnh nấm Candida tại chỗ và toàn thân, các bệnh nấm do các chủng vi khuẩn khác, đông thời thuốc dùng điều trị viêm màng não do Cryptococcus neoformans và dự phòng nhiễm nấm Candida cho bệnh nhân ghép tạng, bệnh nhân ung thư, suy giảm miễn dịch.
Viên nang cứng số 1, đầu nang màu tím có in logo màu trắng, thân nang màu trắng, chứa bột thuốc màu trắng.
Thành Phần Của Fluconazol 150Mg
Thông Tin Thành Phần
Viên nang cứng có chứa:
Thành phần
Hàm lượng
Fluconazole
150mg
Công Dụng Của Fluconazol 150Mg
Chỉ định
Thuốc Fluconazol 150mg được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:
Ðiều trị nhiễm nấm ở người lớn:
- Viêm màng não Cryptococcus.
- Nhiễm nấm Coccidioides immitis.
- Nhiễm nấm Candida niêm mạc bao gồm nhiễm Candida miệng – hầu, Candida thực quản,Candida niệu, nhiễm Candida ở da – niêm mạc.
- Nhiễm Candida âm đạo, cấp hoặc tái phát, khi liệu pháp tại chỗ không phù hợp.
- Viêm quy đầu do Candida khi liệu pháp tại chỗ không phù hợp.
- Nhiễm nấm da bao gồm nhiễm nấm chân, nấm thân, nấm bẹn, lang ben và nhiễm Candida da khi liệu pháp toàn thân được chỉ định.
- Nhiễm nấm móng khi các thuốc khác không phù hợp.
- Phòng ngừa nhiễm nấm ở người lớn.
- Dự phòng viêm màng não do Cryptococcus ở những bệnh nhân có nguy cơ tái phát cao.
- Tái phát nhiễm Candida miệng – hầu hoặc nhiễm Candida thực quản ở bệnh nhân nhiễm HIV có nguy cơ tái phát cao.
- Giảm tỷ lệ tái phát Candida âm đạo (tái phát ≥ 4 lần/năm).
- Nhiễm Candida ở bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính kéo dài (như bệnh nhân bị các bệnh máu ác tính đang được hóa trị liệu hay bệnh nhân được ghép tế bào gốc tạo máu).
Ðiều trị nhiễm nấm ở trẻ em 0 – 17 tuối:
- Điều trị Candida niêm mạc (miệng – hầu, thực quản), Candida xâm lấn, viêm màng não do Cryptococcus và dự phòng nhiễm nấm Candida ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Fluconazol 150mg có thể sử dụng như là liệu pháp duy trì để ngăn ngừa tái phát viêm màng não do Cryptococcus ở trẻ em có nguy cơ tái phát cao.
- Có thể tiến hành điều trị trước khi có kết quả nuôi cấy và kết quả của các xét nghiệm khác, tuy nhiên, một khi đã cả các kết quả xét nghiệm này, cần điều chỉnh phác đồ điều trị kháng nấm theo đó.
Dược lực học
Fluconazole là một thuốc chống nấm thuộc dẫn chất triazole. Cơ chế tác động chủ yếu của thuốc là ức chế khử methyl trên 14 alpha-lanosterol qua trung gian cytochrom P-450 của nấm, một bước quan trọng trong quá trình sinh tổng hợp ergosterol của nấm. Sự tích lũy 14 alpha-methyl sterol tương quan với sự mất ergosterol sau đó trong màng tế bào nấm và chịu trách nhiệm cho hoạt tính kháng nấm của fluconazole. Fluconazole đã được chứng minh là có tính chọn lọc hơn với enzym cytochrom P-450 của nấm so với các hệ thống enzym cytochrom P-450 của các loài động vật có vú khác nhau.
Dùng Fluconazole 50mg/ngày trong khoảng thời gian lên tới 28 ngày đã được chứng minh là không làm ảnh hưởng đến nồng độ testosterone trong huyết tương ở nam giới hoặc nồng độ steroid ở nữ giới trong tuổi sinh đẻ. Ở người tình nguyện nam khỏe, dùng fluconazole với liều 200 – 400mg/ngày không làm ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng trên nồng độ steroid nội sinh hoặc trên đáp ứng được kích thích bởi ACTH. Các nghiên cứu về tương tác với antipyrine cho thấy sử dụng đơn liều hay đa liều fluconazole 50mg không làm ảnh hưởng đến chuyển hóa của chất này.
Tính nhạy cảm in vitro
Fluconazole có hoạt tính kháng nấm đối với hầu hết các loài Candida thường gặp trên lâm sàng (bao gồm C. albicans, C. parapsilosis, C. tropicalis). C. glabrata cho thấy có khoảng nhạy cảm rộng trong khi C. krusei đề kháng với fluconazole. Fluconazole cũng có hoạt tính in vitro đối với Cryptococcus neoformans và Cryptococcus gattii cũng như các nấm mốc có tính dịch tễ địa phương Blastomyces dermatiditis, Coccidioides immitis, Histoplasma capsulatum và Paracoccidioides brasiliensis.
Cơ chế kháng thuốc
Candida spp. đã phát triển một số cơ chế đề kháng với các thuốc chống nấm nhóm azole. Các chủng nấm đã phát triển một hoặc nhiều cơ chế đề kháng này được cho là có nồng độ ức chế tối thiểu cao (MIC) đối với fluconazole gây ảnh hưởng bất lợi in vivo và lâm sàng. Đã có các báo cáo về tình trạng bội nhiễm với các loài Candida khác với C. albicans thường không nhạy cảm với fluconazole (ví dụ Candida krusei). Các trường hợp như vậy có thể cần một liệu pháp kháng nấm thay thế.
Dược động học
Hấp thu
Sau khi uống, fluconazole được hấp thu tốt, nồng độ trong huyết tương (và sinh khả dụng toàn thân) đạt trên 90% so với nồng độ đạt được sau khi dùng đường tĩnh mạch. Sự hấp thu qua đường uống không bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng cùng với thức ăn. Nồng độ đỉnh trong huyết tương ở trạng thái đói xuất hiện trong khoảng 0,5 – 1,5 giờ sau khi uống. Nồng độ trong huyết tương tỷ lệ với liều dùng. Ở trạng thái hằng định, đạt được nồng độ thuốc 90% vào ngày 4 – 5 khi dùng đa liều x 1 lần/ngày. Sử dụng liều tấn công (ở ngày 1) gấp 2 lần liều hàng ngày thông thường làm cho nồng độ thuốc trong huyết tương đạt được xấp xỉ 90% ở trạng thái hằng định vào ngày thứ 2.
Phân bố
Thể tích phân bố khả kiến xấp xỉ bằng tổng lượng nước trong cơ thể. Khả năng gắn với protein huyết tương thấp (11 – 12%). Fluconazole đã được nghiên cứu có khả năng thấm tốt vào tất cả các dịch của cơ thể. Nồng độ fluconazole ở trong nước bọt và đờm tương đương với nồng độ trong huyết tương. Ở những bệnh nhân bị viêm màng não do nấm, nồng độ fluconazole trong dịch não tủy đạt được xấp xỉ 80% so với nồng độ tương ứng trong huyết tương. Nồng độ của fluconazole trên da cao, cao hơn nồng độ của nó trong huyết thanh, đạt được ở lớp sừng, lớp biểu bì – hạ bì và mồ hôi ngoại tiết.
Fluconazole được tích tụ trong lớp sừng của da. Với liều 50mg x 1 lần/ngày, nồng độ fluconazole sau 12 ngày là 73μg/g và 7 ngày sau khi dừng điều trị nồng độ fluconazole vẫn còn 5,8μg/g. Với liều 150mg x 1 lần/tuần, nồng độ fluconazole trong lớp sừng ở ngày thứ 7 là 23,4μg/g và 7 ngày sau khi sử dụng liều thứ 2 nồng độ trong lớp sừng vẫn còn 7,1μg/g. Nồng độ của fluconazole ở móng sau 4 tháng sử dụng với liều 150mg x 1 lần/tuần là 4,05μg/g ở móng khỏe mạnh và 1,8μg/g ở móng bị bệnh và vẫn còn có thể tìm được fluconazole ở các mẫu móng 6 tháng sau khi kết thúc điều trị.
Chuyển hóa
Fluconazole được chuyển hóa ở mức độ nhẹ. Với một liều phóng xạ, chỉ có 11% được bài tiết dưới dạng không đổi qua nước tiểu. Fluconazole là chất ức chế vừa phải isozyme CYP2C9 và CYP3A4. Fluconazole cũng là một chất ức chế mạnh isozyme CYP2C19.
Thải trừ
Thời gian bán thải trong huyết tương xấp xỉ 30 giờ. Đường đào thải chủ yếu của fluconazole là thận, với xấp xỉ 80% liều sử dụng xuất hiện với dạng không đổi qua nước tiểu. Độ thanh thải của fluconazole tỷ lệ thuận với độ thanh thải của creatinine. Không có bằng chứng cho thấy có các chất chuyển hóa của nó trong tuần hoàn. Thời gian bán thải kéo dài trong huyết tương là cơ sở cho phác đồ điều trị đơn liều đối với nhiễm nấm Candida âm đạo dùng 1 lần/ngày và 1 lần/tuần cho các chỉ định khác.
Dược động học ở người suy thận
Ở những bệnh nhân suy thận nặng (GFR < 20ml/phút), thời gian bán thải tăng từ 30 – 98 giờ. Do đó, cần giảm liều. Fluconazole được loại bỏ bằng thẩm phân máu và ở mức độ thấp hơn bằng thẩm tách phúc mạc. Sau 3 giờ thẩm phân máu, khoảng 50% fluconazole được thải trừ khỏi máu.
Dược động học trong thời kỳ cho con bú
Một nghiên cứu về dược động học ở 10 phụ nữ đang cho con bú, những người đã tạm thời ngưng hoặc vĩnh viễn ngưng cho con bú, đánh giá nồng độ fluconazole trong huyết tương và trong sữa mẹ trong 48 giờ sau khi dùng liều duy nhất 150 mg fluconazole. Fluconazole được phát hiện trong sữa mẹ với nồng độ trung bình khoảng 98% so với nồng độ trong huyết tương của người mẹ. Nồng độ đỉnh trung bình trong sữa mẹ là 2,61mg/l đạt được vào 5,2 giờ sau liều. Liều fluconazole ước tính hàng ngày cho trẻ sơ sinh từ sữa mẹ (giả định mức tiêu thụ sữa trung bình là 150ml/kg/ngày) dựa trên nồng độ đỉnh trung bình trong sữa là 0,39mg/kg/ngày, chiếm khoảng 40% liều khuyến cáo cho trẻ sơ sinh (< 2 tuần tuổi) hoặc chiếm 13% liều khuyến cáo cho trẻ nhỏ đối với bệnh nhiễm nấm Candida niêm mạc.
Dược động học ở trẻ em
Dữ liệu dược động học được đánh giá cho 113 bệnh nhi từ 5 nghiên cứu, 2 nghiên cứu đơn liều, 2 nghiên cứu đa liều và 1 nghiên cứu ở trẻ sơ sinh thiếu tháng. Dữ liệu từ một nghiên cứu không thể giải thích được do những thay đổi trong cách thức xây dựng qua quá trình nghiên cứu. Có thêm dữ liệu từ 1 nghiên cứu sử dụng thuốc cho bệnh nhân ngoài thử nghiệm lâm sàng. Sau khi dùng 2 – 8mg/kg fluconazole cho trẻ em từ 9 tháng tuổi đến 15 tuổi, AUC khoảng 38μg/m được tìm thấy trên mỗi 1mg/kg đơn vị liều. Thời gian bán thải của fluconazole trung bình trong huyết tương dao động từ 15 – 18 giờ và thể tích phân bố khoảng 880ml/kg sau khi dùng đa liều.
Thời gian bán thải của fluconazole trong huyết tương cao hơn, khoảng 24 giờ sau một liều đơn. Điều này có thể so sánh được với thời gian bán thải của fluconazole trong huyết tương sau khi dùng một liều đơn 3mg/kg tiêm tĩnh mạch cho trẻ từ 11 ngày – 11 tháng tuổi. Thể tích phân bố ở nhóm tuổi này khoảng 950ml/kg. Kinh nghiệm với fluconazole ở trẻ sơ sinh được giới hạn trong các nghiên cứu dược động học ở trẻ sơ sinh thiếu tháng.
Tuổi trung bình ở liều đầu tiên là 24 giờ (khoảng 9 – 36 giờ) và trọng lượng lúc sinh trung bình là 0,9kg (khoảng 0,75 – 1,10kg) đối với 12 trẻ sơ sinh thiếu tháng ở tuổi thai trung bình khoảng 28 tuần. 7 bệnh nhân đã hoàn tất hồ sơ, tối đa là 5 lần truyền tĩnh mạch fluconazole với liều 6mg/kg được thực hiện mỗi 72 giờ. Thời gian bán thải trung bình (giờ) là 74 (khoảng 44 – 185) vào ngày 1 giảm theo thời gian đến trung bình là 53 (khoảng 30 – 131) vào ngày 7 và 47 (khoảng 27 – 68) vào ngày 13. Diện tích dưới đường cong (microgram.h/ml) là 271 (khoảng 173 – 385) vào ngày 1 và tăng với trung bình 490 (khoảng 292 – 734) vào ngày 7 và giảm xuống trung bình là 360 (khoảng 167 – 566) vào ngày 13. Thể tích phân bố (ml/kg) là 1183 (khoảng 1070 – 1470) vào ngày 1 và tăng lên theo thời gian đến trung bình là 1184 (khoảng 510 – 2130) vào ngày 7 và 1328 (khoảng 1040 – 1680) vào ngày 13.
Dược động học ở người cao tuổi
Tiến hành nghiên cứu dược động học trên 22 người ≥ 65 tuổi, uống 1 liều duy nhất 50mg fluconazole. Trong số này có 10 bệnh nhân uống thêm thuốc lợi tiểu. Cmax là 1,54μg/ml và đạt được sau khi uống 1,3 giờ. AUC trung bình là 76,4 ± 20,3μg/h/ml và thời gian bán thải cuối cùng trung bình là 46,2 giờ. Những giá trị thông số dược động học này cao hơn những giá trị tương tự trên tình nguyện viên nam trẻ khỏe mạnh.
Việc dùng đồng thời với thuốc lợi tiểu không làm biến đổi đáng kể tới AUC hoặc Cmax của fluconazole. Hơn nữa độ thanh thải creatinine (74ml/phút), phần trăm của thuốc chưa chuyển hóa được tìm thấy trong nước tiểu (0 – 24 giờ, 22%) và độ thanh thải fluconazole qua thận (0,124ml/phút/kg) ở người cao tuổi thường thấp hơn ở những người tình nguyện trẻ tuổi. Do đó, sự thay đổi về dược động học của fluconazole ở người cao tuổi dường như liên quan đến các đặc tính suy giảm chức năng thận ở lứa tuổi này.
Liều Dùng Của Fluconazol 150Mg
Cách dùng
Dùng đường uống.
Liều dùng
Liều fluconazole cần dựa trên bản chất và mức độ nhiễm nấm. Việc điều trị nhiễm nấm đòi hỏi phải sử dụng phác đồ đa liều, nên tiếp tục điều trị cho đến khi các thông số lâm sàng hoặc các xét nghiệm cho thấy tình trạng nhiễm nấm dạng hoạt động đã thuyên giảm. Điều trị không đủ thời gian có thể dùng đến tái phát nhiễm nấm hoạt động
Nhiễm nấm Cryptococcus
Điều trị viêm màng não do Cryptococcus
Liều tấn công: 400mg ngày đầu tiên, liều tiếp theo sau đó: 200 – 400mg x 1 lần/ngày.
Thời gian điều trị thông thường ít nhất từ 6 – 8 tuần, trong những trường hợp đe dọa tính mạng, liều có thể tăng lên 800mg/ngày.
Liệu pháp duy trì để ngăn ngừa tái phát viêm màng não do Cryptococcus ở những bệnh nhân có nguy cơ tái phát cao: 200mg x 1 lần/ngày.
Thời gian điều trị: Không xác định với liều 200mg/ngày.
Nhiễm nấm Coccidioides immitis
Dùng 1 viên, thời gian điều trị từ 11 – 24 tháng hoặc lâu hơn tùy theo từng bệnh nhân.
Điều trị nhiễm nấm Candida niêm mạc
Nhiễm Candida miệng – hầu
Liều tấn công: 2 viên trong ngày đầu tiên, liều tiếp theo sau đó 1 viên/ngày.
Thời gian điều trị: 7 – 21 ngày (cho đến khi tình trạng nhiễm Candida miệng – hầu thuyên giảm).
Nhiễm Candida thực quản
Liều tấn công: 2 viên trong ngày đầu tiên, liều tiếp theo sau đó: 1 viên/ngày.
Thời gian điều trị 14 – 30 ngày (cho đến khi tình trạng nhiễm Candida thực – quản thuyên giảm).
Nhiễm Candida niệu
Uống 2 viên/ngày.
Thời gian điều trị: 7 – 21 ngày.
Thời gian điều trị có thể dài hơn ở bệnh nhân có chức năng miễn dịch bị tổn hại nghiêm trọng.
Phòng ngừa tái phát nhiễm nấm Candida niêm mạc ở những bệnh nhân nhiễm HIV có nguy cơ tái phát cao
Nhiễm Candida miệng – hầu: 1 viên/ngày.
Nhiễm Candida thực quản: 1 viên/ngày.
Không giới hạn khoảng thời gian điều trị đối với bệnh nhân bị ức chế miễn dịch mạn tính.
Nhiễm nấm Candida sinh dục
Người lớn
Nhiễm Candida âm đạo cấp: 1 viên, liều duy nhất.
Điều trị và dự phòng tái phát nhiễm Candida âm đạo (tái phát 2 – 4 lần/năm): 1 viên mỗi 3 ngày, tổng cộng 3 liều (ngày thứ 1, thứ 4 và thứ 7) sau đó dùng liều duy trì 1 viên x 1 lần/tuần (trong 6 tháng).
Viêm bao quy đầu do Candida: 1 viên, liều duy nhất.
Thanh thiếu niên (12 – 17 tuổi)
Tính an toàn và hiệu quả của chỉ định nhiễm Candida sinh dục trẻ em chưa được thiết lập. Nếu bắt buộc phải điều trị nấm Candida sinh dục nên dùng liều lượng giống như ở người lớn.
Nhiễm nấm da
Nhiễm nấm chân, nấm thân, nấm bẹn và nhiễm Candida ở da
Dùng 1 viên x 1 lần/tuần, điều trị trong 2 – 4 tuần, nấm chân thời gian điều trị có thể cần đến 6 tuần.
Lang ben
Dùng 2 viên x 1 lần/tuần, thời gian từ 1- 3 tuần.
Nấm móng
Uống 1 viên x 1 lần/tuần. Cần tiếp tục điều trị cho đến khi móng bị nhiễm nấm được ngàn thay thế (móng mới chưa bị nhiễm phát triển thay). Sự phát triển lại của móng tay và móng chân thông thường phải cần thời gian tương ứng từ 3 – 6 tháng và từ 6 – 12 tháng. Tuy nhiên tốc độ phát triển có thể thay đổi rất nhiều tùy theo từng cá thể và theo độ tuổi. Đối với nhiễm nấm mạn tính trong thời gian dài, sau khi điều trị thành công, móng thỉnh thoảng vẫn còn bị biến dạng.
Dự phòng nhiễm Candida ở bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính kéo dài
Dùng 2 viên. Nên bắt đầu điều trị một vài ngày trước khi dự đoán bắt đầu giảm bạch cầu trung tính và tiếp tục trong vòng 7 ngày sau khi hồi phục giảm bạch cầu trung tính khi số lượng bạch cầu trung tính tăng lên trên 1000 tế bào/mm3.
Người cao tuổi
Điều chỉnh liều dựa trên chức năng thận.
Bệnh nhân suy thận
Không cần điều chỉnh liều khi dùng liều duy nhất. Ở bệnh nhân (kể cả trẻ em) suy giảm chức năng thận dùng fluconazol đa liều, nên dùng liều khởi đầu 1-2 viên dựa trên liều khuyến cáo hàng ngày cho từng chỉ định. Sau liều khởi đầu này, liệu hàng ngày (theo chỉ định) dựa vào bảng sau:
|
Bệnh nhân được thẩm phần máu đều đặn dùng 100% liều khuyến cáo sau mỗi lần thẩm phân máu trong các ngày không thẩm phân máu, bệnh nhân cần được giảm liều dựa trên độ thanh thải creatinine.
Bệnh nhân suy gan
Dữ liệu còn hạn chế ở bệnh nhân suy gan, vì vậy nên dùng fluconazole thận trọng ở bệnh nhân suy chức năng gan.
Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.
Làm gì khi dùng quá liều?
Nếu chẩn đoán lâm sàng có biểu hiện quá liều thì phải đưa người bệnh đến bệnh viện và giám sát cẩn thận ít nhất 24 giờ, phải theo dõi các dấu hiệu lâm sàng, nồng độ kali huyết và làm các xét nghiệm về gan, thận. Trường hợp quá liều trầm trọng nên tiến hành thẩm phân máu.
Làm gì khi quên 1 liều?
Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.
Tác Dụng Phụ Của Fluconazol 150Mg
-
Tiêu hóa: Đau bụng, nôn, tiêu chảy, buồn nôn.
-
Gan mật: Tăng alanin aminotransferase, tăng aspartate aminotransferase, tăng phosphatase kiềm huyết.
-
Da và mô dưới da: Phát ban.
-
Máu và hệ bạch huyết: Thiếu máu.
-
Tâm thần: Buồn ngủ hoặc mất ngủ.
-
Chuyển hóa và dinh dưỡng: Giảm thèm ăn.
-
Thần kinh: Động kinh, dị cảm, hoa mắt, mất vị giác.
-
Tai và mê đạo: Chóng mặt.
-
Tiêu hóa: Táo bón, khó tiêu, đầy hơi, khô miệng.
-
Gan mật: Ứ mật, vàng da, tăng bilirubin.
-
Da và mô dưới da: Phát ban do thuốc, nổi mày đay, ngứa, tăng tiết mồ hôi.
-
Cơ-xương khớp và mô liên kết: Đau cơ.
-
Toàn thân: Mệt mỏi, khó chịu, suy nhược, sốt.
-
Máu và hệ bạch huyết: Mất bạch cầu hạt, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu trung tính.
-
Miễn dịch: Phản vệ.
-
Chuyển hóa và dinh dưỡng: Tăng cholesterol huyết, tăng triglycerid huyết, hạ kali huyết.
-
Thần kinh: Run.
-
Tim: Xoắn đỉnh, QT kéo dài.
-
Gan mật: Suy gan, hoại tử tế bào gan, viêm gan, tổn thương tế bào gan.
-
Da và mô dưới da: Hoại tử biểu bì nhiễm độc, hội chứng Stevens-Johnson, hội chứng ngoại ban mụn mủ toàn thân cấp tính, viêm da tróc vảy, phù mạch, phù mặt, rụng tóc.
Khi sử dụng thuốc Fluconazol 150mg, bạn có thể gặp các tác dụng không mong muốn (ADR).
Thường gặp, ADR > 1/100
Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100
Hiếm gặp, 1/10000 ≤ ADR < 1/1000
Hướng dẫn cách xử trí ADR: Khi gặp tác dụng phụ của thuốc, cần ngưng sử dụng và thông báo cho bác sĩ hoặc đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời.
Lưu Ý Của Fluconazol 150Mg
Trước khi sử dụng thuốc bạn cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo thông tin bên dưới.
Chống chỉ định
Thuốc Fluconazol 150mg chống chỉ định trong các trường hợp sau:
-
Quá mẫn với fluconazole, nhóm kháng nấm azole hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.
Thận trọng khi sử dụng
Bệnh chốc đầu
Fluconazole được nghiên cứu để điều trị bệnh chốc đầu ở trẻ em. Fluconazole đã được chứng minh là không vượt trội so với griseofulvin và tỷ lệ thành công chung ít hơn 20%. Do đó, không nên sử dụng Fluconazol 150mg để điều trị bệnh chốc đầu.
Nhiễm nấm Cryptococcus
Bằng chứng về hiệu quả của fluconazole trong điều trị nhiễm nấm Cryptococcus ở các vị trí khác (như nhiễm nấm Cryptococcus ở phối và da) còn hạn chế, gây khó khăn cho việc đưa ra các khuyến cáo về liều lượng. Nhiễm nấm sâu có tính dịch tế địa phương: Bằng chứng về hiệu quả của fluconazole trong điều trị các dạng nhiễm nấm khác nhau có tính dịch tế địa phương như nhiễm nấm Paracoccidioides, nhiễm Sporotrichum da – bạch huyết và nhiễm Histoplasma còn hạn chế, gây khó khăn cho việc đưa ra các khuyến cáo về liều lượng.
Thận
Nên dùng Fluconazol 150mg thận trọng ở những bệnh nhân rối loạn chức năng thận.
Suy thượng thận
Ketoconazole đã được biết gây suy thượng thận, điều này cũng có thể xảy rà mặc dù hiếm gặp ở fluconazole. Suy thượng thận có liên quan đến việc điều trị đồng thời với prednisone.
Gan – mật
Nên dùng Fluconazol 150mg thận trọng ở những bệnh nhân rối loạn chức năng gan. Fluconazol 150mg có liên quan tới một số trường hợp hiếm gặp nhiễm độc gan nghiêm trọng bao gồm cả tử vong, chủ yếu ở những bệnh nhân có bệnh lý đi kèm trầm trọng. Ở các trường hợp nhiễm độc gan có liên quan đến fluconazole, không thấy có mối liên quan rõ ràng với tổng liều dùng hàng ngày, thời gian điều trị, giới tính hay tuổi của bệnh nhân.
Độc tính trên gan do fluconazole thường hồi phục sau khi ngừng điều trị. Những bệnh nhân có các xét nghiệm chức năng gan bất thường trong thời gian điều trị với fluconazole cần được theo dõi chặt chẽ tiến triển tổn thương gan trầm trọng thêm. Bệnh nhân cần được thông báo về triệu chứng gợi ý của ảnh hưởng trên gan nghiêm trọng
Tim mạch
Một số azole, kể cả fluconazole, có liên quan đến việc kéo dài khoảng QT trên điện tâm đồ. Fluconazole làm kéo dài khoảng QT qua ức chế chỉnh lưu dòng kênh kali (Ikr). Kéo dài khoảng QT do các sản phẩm dược khác (như amiodarone) có thể được mở rộng qua sự ức chế cytochrom P450 (CYP) 3A4. Báo cáo sau quá trình lưu hành cho thấy có rất hiếm trường hợp kéo dài khoảng QT và xoắn đỉnh ở những bệnh nhân sử dụng fluconazole. Những báo cáo này bao gồm trên cả những bệnh nhân bị bệnh nặng có nhiều yếu tố nguy cơ góp phần, như bệnh tim cấu trúc, các bất thường về điện giải và phối hợp với các thuốc khác. Những bệnh nhân hạ kali huyết và suy tim tiến triển có nguy cơ cao xuất hiện loạn nhịp thất và xoắn đỉnh đe dọa đến tính mạng. Nên dùng Fluconazol 150mg thận trọng ở những bệnh nhân có tình trạng loạn nhịp tiềm tàng. Chống chỉ định dùng đồng thời với các thuốc khác kéo dài khoảng QT và được chuyển hóa qua cytochrom P450 (CYP) 3A4.
Halofantrine
Halofantrine đã được chứng minh là kéo dài khoảng QTc ở liều điều trị khuyến cáo và là một chất nền của CYP3A4. Khuyến cáo không dùng đồng thời fluconazole và halofantrine.
Phản ứng da
Đã xuất hiện (hiếm gặp) các phản ứng da tróc vảy, như hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử biểu bì nhiễm độc ở những bệnh nhân trong giai đoạn điều trị với fluconazole. Các bệnh nhân AIDS dễ bị phát triển các phản ứng da trầm trọng đối với nhiều loại thuốc. Nếu xuất hiện ban da, mà được coi là do fluconazole, xuất hiện ở bệnh nhân được điều trị nhiễm nấm bề mặt, cần ngừng điều trị thuốc này. Nếu xuất hiện ban da ở những bệnh nhân bị nhiễm nấm toàn thân hoặc nhiễm nấm xâm lấn, cần theo dõi chặt chẽ và ngừng fluconazole trong trường hợp xuất hiện tổn thương dạng bóng nước hoặc hồng ban đa dạng.
Quá mẫn
Đã có báo cáo về trường hợp phản ứng phản vệ nhưng hiếm gặp.
Cytochrom P450
Fluconazole là chất ức chế trung bình CYP2C9 và CYP3A4. Fluconazole cũng là chất ức chế mạnh CYP2C19. Cần theo dõi những bệnh nhân đã điều trị với fluconazole khi điều trị đồng thời với các thuốc có khoảng trị liệu hẹp được chuyển hóa qua CYP2C9, CYP2C19 và CYP3A4.
Terfenadine
Cần theo dõi cẩn thận khi sử dụng đồng thời fluconazole liều thấp hơn 400mg/ngày với terfenadine.
Tá dược
Fluconazol 150mg có chứa lactose. Không nên dùng thuốc này cho bệnh nhân có các vấn đề về di truyền hiếm gặp không dung nạp galactose, thiếu hụt enzym lactase toàn phần hay kém hấp thu glucose – galactose. Fluconazol 150mg có chứa tinh bột mỳ. Những bệnh nhân bị dị ứng với lúa mỳ (khác với bệnh tiêu chảy phân mỡ) không nên dùng thuốc này.
Khả năng lái xe và vận hành máy móc
Chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của fluconazole trên khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc. Bệnh nhân cần được cảnh báo về khả năng gây hoa mắt hoặc động kinh trong khi dùng fluconazole và không nên lái xe hoặc vận hành máy móc nếu có bất kỳ triệu chứng nào xảy ra.
Thời kỳ mang thai
Đến nay chưa có các nghiên cứu đầy đủ và có kiểm soát chặt chẽ về việc dùng fluconazole cho người mang thai. Chỉ nên dùng fluconazole cho người mang thai khi lợi ích điều trị lớn hơn nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi.
Thời kỳ cho con bú
Fluconazole được bài tiết vào sữa mẹ với nồng độ thấp hơn nồng độ trong huyết tương. Có thể duy trì việc cho con bú sau khi uống liều duy nhất 150mg. Tuy nhiên khuyến cáo không cho bú sau khi dùng liều lặp lại hoặc sử dụng liều cao fluconazole.
Tương tác thuốc
Chống chỉ định kết hợp
Cisapride: Đã có báo cáo về các biến cố tim mạch bao gồm xoắn đỉnh ở những bệnh nhân dùng đồng thời cisapride và fluconazole. Một nghiên cứu có kiểm soát cho thấy nồng độ cisapride trong huyết tương tăng lên đáng kể và kéo dài khoảng QTc khi dùng đồng thời fluconazole 200mg x 1 lần/ngày và cisapride 20mg x 4 lần/ngày. Chống chỉ định điều trị đồng thời fluconazole và cisapride.
Terfenadine: Vì sự xuất hiện của các rối loạn nhịp tim nghiêm trọng do kéo dài khoảng QTc ở những bệnh nhân dùng các thuốc chống nấm nhóm azole kết hợp với terfenadine, nghiên cứu về sự tương tác thuốc đã được thực hiện. Nghiên cứu với liều dùng fluconazole 200mg 1 lần/ngày không phát hiện thấy kéo dài khoảng QTc. Một nghiên cứu khác với liều fluconazole là 400mg và 800mg/ngày cho thấy fluconazole với các liều ≥ 400mg/ngày làm tăng đáng kể nồng độ terfenadine trong huyết tương khi dùng đồng thời fluconazole và terfenadine. Chống chỉ định dùng phối hợp fluconazole liều ≥ 400mg/ngày với terfenadine. Cần kiểm soát chặt chẽ khi chỉ định phối hợp fluconazole ở liều < 400mg/ngày với terfenadine.
Astemizole: Dùng đồng thời fluconazole với astemizole có thể làm giảm độ thanh thải của astemizole. Do vậy làm tăng nồng độ astemizole trong huyết tương, có thể dẫn đến làm kéo dài khoảng QT và hiếm thấy xuất hiện xoắn đỉnh. Chống chỉ định dùng đồng thời fluconazole và astemizole.
Pimozide: Mặc dù không có nghiên cứu in vitro hay in vivo, dùng đồng thời fluconazole với pimozide có thể ức chế chuyển hóa pimozide. Tăng nồng độ pimozide trong huyết tương có thể làm kéo dài khoảng QT và đôi lúc xuất hiện hiện tượng xoắn đỉnh. Chống chỉ định dùng đồng thời fluconazole và pimozide.
Quinidine: Mặc dù không có nghiên cứu in vitro hay in vivo, dùng đồng thời fluconazole và quinidine có thể ức chế chuyển hóa quinidine. Dùng quinidine có thể làm kéo dài khoảng QT và hiếm thấy xuất hiện hiện tượng xoắn đỉnh. Chống chỉ định dùng đồng thời fluconazole và quinidine.
Erythromycin: Dùng đồng thời fluconazole và erythromycin có khả năng làm tăng nguy cơ độc tính với tim (kéo dài khoảng QT, gây hiện tượng xoắn đỉnh) và do vậy gây đột tử cho tim. Chống chỉ định dùng đồng thời fluconazole và erythromycin.
Khuyến cáo không kết hợp
Halofantrine: Fluconazole có thể làm tăng nồng độ halofantrine trong huyết tương do tác dụng ức chế CYP3A4. Dùng đồng thời fluconazole và halofantrine có khả năng làm tăng nguy cơ độc tính với tim (kéo dài khoảng QT, gây hiện tượng xoắn đỉnh) và do vậy gây đột tử cho tim. Cần tránh dùng kết hợp.
Thận trọng khi kết hợp
Amiodarone: Dùng đồng thời fluconazole với amiodarone có thể làm tăng kéo dài khoảng QT.
Thận trọng nếu thực sự cần dùng đồng thời fluconazole và amiodarone, đặc biệt là liều cao

